Đề thi tốt nghiệp THPT các môn khoa học xã hội ngày càng có xu hướng gắn với thực tiễn, đòi hỏi thí sinh phải trang bị tốt kỹ năng đọc hiểu và phân tích để nâng cao hiệu quả học tập và làm bài.
![]() |
| Cô Nguyễn Thị Hà trong giờ dạy Địa lí tại lớp 12A13, Trường THPT Hoài Đức B (Hà Nội). |
Học và ôn tập hiệu quả
Trên lộ trình đổi mới dạy học Ngữ văn, học sinh ngày càng được tiếp cận với nhiều dạng đề mới, đòi hỏi khả năng đọc hiểu, phân tích và liên hệ thực tiễn. Vì vậy, trong quá trình ôn tập, cô Nguyễn Thị Thanh Tâm – giáo viên Ngữ văn, Trường THPT chuyên Chu Văn An (Tây Hồ, Hà Nội), thường hướng dẫn học sinh hệ thống hóa kiến thức theo hướng rèn kỹ năng, thay vì học thuộc máy móc.
Trước hết, với phần đọc hiểu, học sinh cần phân loại câu hỏi theo từng kiểu văn bản như thơ, truyện ngắn, văn bản nghị luận, văn bản thông tin. Ở mỗi dạng, các em cần nhận diện các mức độ từ nhận biết, thông hiểu đến vận dụng.
Với câu hỏi nhận biết, học sinh cần đọc kỹ văn bản để xác định đúng yêu cầu đề. Một số dạng thường gặp là nhận diện dấu hiệu thể loại; tìm từ ngữ, hình ảnh liên quan đến một đối tượng trong văn bản; xác định luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng trong văn bản nghị luận.
Ở mức độ thông hiểu, học sinh cần biết cách giải thích, phân tích để làm rõ ý nghĩa chi tiết, tác dụng của biện pháp tu từ, hoặc nhận xét cách tác giả sử dụng lí lẽ, bằng chứng. Với câu hỏi vận dụng, các em cần liên hệ với đời sống, thể hiện quan điểm cá nhân, từ đó rút ra thông điệp hoặc bài học có ý nghĩa.
“Khi đã nắm được các dạng câu hỏi, thí sinh cũng cần rèn luyện cách trả lời đầy đủ, chính xác. Nhiều em chỉ nêu nhận xét mà chưa chỉ ra căn cứ trong văn bản hoặc bỏ sót ý phụ. Vì vậy, việc đọc kỹ yêu cầu đề và trả lời đúng trọng tâm là yếu tố rất quan trọng để tránh mất điểm”, cô Nguyễn Thị Thanh Tâm lưu ý.
Đối với phần viết đoạn, học sinh cần chú ý yêu cầu về hình thức, xác định đúng khía cạnh mà đề bài đặt ra. Ở phần viết bài, bố cục phải rõ ràng, triển khai luận điểm mạch lạc; đồng thời chú ý chính tả, diễn đạt và chữ viết để bảo đảm điểm hình thức. Nội dung bài viết cần phát triển theo trình tự hợp lý, có đủ luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng, tránh bỏ sót ý hoặc triển khai dàn trải. Các em cũng nên bày tỏ quan điểm, liên hệ với bản thân một cách sâu sắc.
Với môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật, cô Đỗ Thị Hoa – Trường THPT Hoài Đức B (An Khánh, Hà Nội), nhấn mạnh học sinh cần nắm chắc kiến thức trong sách giáo khoa và bám sát cấu trúc đề thi của chương trình mới. Ở các nội dung liên quan đến Luật Doanh nghiệp, Luật Hôn nhân và Gia đình, nhiều quy định được cập nhật gắn với bối cảnh thực tiễn hiện nay.
Học sinh cần hệ thống hóa kiến thức bằng sơ đồ tư duy, rèn kỹ năng nhận diện “từ khóa”. Trong quá trình luyện đề, nên làm trắc nghiệm theo nguyên tắc “dễ trước, khó sau”. Các câu vận dụng thường gắn với tình huống thực tế, đòi hỏi nắm được những thay đổi của một số luật cơ bản để cập nhật kiến thức. Đồng thời, cần đọc kỹ câu hỏi và dữ liệu để tránh lạc đề, hạn chế mất điểm.

Học theo sơ đồ tư duy
Ở môn Lịch sử, cô Nguyễn Thị Mai Hiên – Trường THPT Kim Ngọc (Vĩnh Yên, Phú Thọ), cho rằng học theo từ khóa kết hợp sơ đồ tư duy mang lại hiệu quả rõ rệt, thay vì ghi nhớ máy móc từng câu chữ.
Chẳng hạn, khi học về Cách mạng Tháng Tám, từ khóa cốt lõi cần ghi nhớ là “thời cơ ngàn năm có một”. Sơ đồ tư duy giúp học sinh nhìn thấy mối liên hệ giữa các sự kiện, hiểu bản chất vấn đề thay vì chỉ nhớ mốc thời gian rời rạc.
Với các câu hỏi gắn với thực tiễn, cô Hiên thường đặt vấn đề theo hướng mở, như: “Bài học từ sự kiện này có thể vận dụng gì trong công cuộc bảo vệ chủ quyền hiện nay?”. Khi dạy về các hội nghị quốc tế như Ianta hay Giơnevơ, cô lồng ghép các vấn đề địa chính trị đương đại, qua đó giúp học sinh hình thành tư duy phản biện – yếu tố quan trọng để xử lý các câu hỏi vận dụng cao.
“Tôi ưu tiên cho học sinh tiếp cận các nguồn sử liệu ngoài sách giáo khoa như tranh ảnh, trích đoạn nhật ký, nhận định của chuyên gia. Việc phân tích những tư liệu này giúp các em không bỡ ngỡ trước các câu hỏi mới, đòi hỏi suy luận logic thay vì chỉ tái hiện kiến thức”, cô Hiên chia sẻ.
Theo cô, lịch sử Việt Nam luôn gắn với dòng chảy lịch sử thế giới. Việc đặt sự kiện trong bối cảnh chung sẽ giúp học sinh hiểu rõ nguyên nhân và ý nghĩa của từng giai đoạn. Đồng thời, giữ tâm thế thoải mái, coi Lịch sử là những câu chuyện giàu cảm hứng, thay vì môn học thuộc lòng khô khan, chính là “chìa khóa” giúp các em ghi nhớ lâu hơn.
Với môn Địa lí, cô Nguyễn Thị Hà – Trường THPT Hoài Đức B (An Khánh, Hà Nội), với 20 năm kinh nghiệm giảng dạy, cho rằng việc nắm vững định dạng và cấu trúc đề thi là yếu tố quan trọng. Học sinh cần nắm chắc kiến thức theo yêu cầu cần đạt, biết xây dựng sơ đồ tư duy và liên hệ thực tế để xử lý các câu hỏi vận dụng; đồng thời thường xuyên cập nhật thông tin qua báo chí, truyền thông.
Địa lí là môn học có tính “động”, khi các số liệu về dân số, GDP hay môi trường luôn thay đổi. Thay vì học thuộc số liệu, học sinh cần tìm hiểu các vấn đề thực tiễn như chương trình trồng rừng, tác động của biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long, hoặc lý giải sự khác biệt giữa các vùng như Tây Bắc và Đông Bắc dựa trên yếu tố địa hình, khí hậu, sinh vật.
Theo cô Hà, đề thi hiện nay khai thác sâu kỹ năng sử dụng Atlat, không chỉ ở câu hỏi nhận biết mà cả ở câu hỏi vận dụng. Vì vậy, học sinh cần rèn luyện khả năng đọc, phân tích Atlat và lập luận dựa trên dữ liệu, qua đó nâng cao hiệu quả làm bài.
Kỹ năng đọc Atlat giúp học sinh không chỉ nhận diện thông tin, mà còn biết phân tích và lý giải các hiện tượng địa lí. Chẳng hạn, để giải thích vì sao vùng kinh tế trọng điểm miền Trung tập trung phát triển các ngành kinh tế biển, học sinh cần kết hợp nhiều trang trong Atlat: Trang Hình thể (thể hiện đường bờ biển dài), trang Công nghiệp chung (các khu kinh tế ven biển) và trang Giao thông vận tải (hệ thống cảng nước sâu).
Thông qua quá trình này, kỹ năng lập luận được hình thành rõ nét khi học sinh biết đặt câu hỏi “tại sao” trước mỗi ký hiệu trên bản đồ, từ đó từng bước phát triển tư duy phân tích và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Nguồn: https://giaoducthoidai.vn/on-thi-tot-nghiep-thpt-nhom-mon-khoa-hoc-xa-hoi-tang-doc-hieu-ren-ky-nang-phan-tich-post771801.html

